Phương pháp luận sáng tạo TRIZ


PPLST giúp người ta nhanh chóng tìm ra con đường ngắn nhất để đạt được mục đích dựa trên các quy luật phát triển của tư duy và khoa học.

Phương pháp luận sáng tạo đã được truyền bá vào Việt Nam trước người Mỹ 14 năm, người Pháp 19 năm, người Nhật 20 năm… nhưng đến nay vẫn là quá mới. Hai người thầy truyền bá môn khoa học mang tính sáng tạo này vào Việt Nam với giáo án được công nhận là tốt nhất thế giới, suốt 26 năm qua cũng mới chỉ giảng dạy được cho 15.000 học viên.

Phương pháp luận sáng tạo (PPLST) theo quan niệm hiện đại trên thế giới là một môn khoa học cơ bản. Nó được phát triển từ Lý thuyết giải các bài toán sáng chế (viết tắt theo tiếng Nga là TRIZ) của Genrick Saulovic Altshuller (1926-1998).

Ông là người gốc Do Thái. Năm 1971, Đại học Sáng chế Liên Xô được thành lập nhằm đào tạo các nhà tổ chức hoạt động sáng tạo. Trong hai khóa học, trường đã nhận 6 sinh viên Việt Nam vào học như một ngoại lệ. Song khi về nước, chỉ có hai trong số họ truyền bá môn học này vào Việt Nam. Đó là thầy Phan Dũng – Tiến sĩ Vật lý thực nghiệm đầu tiên của Việt Nam và thầy Dương Xuân Bảo – Kỹ sư Vật lý điện tử bán dẫn.

Khi lớp PPLST mở rộng rãi, đối tượng chiêu sinh rất rộng, dành cho người có trình độ từ phổ thông trung học trở lên. Các học viên sẽ được học 40 thuật sáng tạo và các quy luật phát triển khách quan thuộc TRIZ. Tuy vậy, TRIZ không phải là lời giải cho những bài toán hóc búa hay một dạng toán học cao cấp như nhiều người đã hình dung, mà được dành cho tất cả mọi người và hướng đến giải quyết những vấn đề trong thực tế.

Có thể hình dung một cách đơn giản về môn PPLST như sau: Khi đứng trước một vấn đề cần ra quyết định trong đời sống, người ta thường rơi vào hai tình huống, hoặc là không biết cách đạt được mục đích, hoặc là không biết cách tối ưu để đạt được mục đích trong một số cách đã chọn. Vì thế, người ta thường chấp nhận thử và sai, mò mẫm tìm cách giải quyết. PPLST giúp người ta nhanh chóng tìm ra con đường ngắn nhất để đạt được mục đích dựa trên các quy luật phát triển của tư duy và khoa học.

Tại sao một môn khoa học cơ bản đã tồn tại ở Việt Nam 26 năm vẫn là… quá mới?

Ngay từ năm 1977, Giáo sư, Tiến sĩ Phan Dũng đã đề cập với một vị cán bộ lãnh đạo khoa học rằng: “Nếu tôi được đầu tư và cho vay vốn (quy ra tiền bây giờ khoảng 1 tỷ đồng) cho 6 người đã theo học PPLST, thì tôi xin hứa, chúng ta sẽ có bộ mặt riêng về lĩnh vực này. Sau 20 năm nữa trình độ của chúng ta sẽ tương đương không thua kém so với thế giới”. Song ý tưởng “táo bạo” này của ông đã bị từ chối.

Sau đó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Dũng liên tiếp đề cập vấn đề này với ba vị bộ trưởng Bộ Giáo dục ở những thời kỳ khác nhau. Ông đã gửi đi hàng chục kg tài liệu báo cáo về môn học và hoạt động của trung tâm, nhưng câu trả lời vẫn là sự im lặng, hoặc vấn đề còn quá mới.

Mới đây, ông là một trong hai đại biểu duy nhất đến từ nước đang phát triển (Việt Nam và Mexico) tại Hội nghị quốc tế về Đổi mới và sáng tạo năm 2001 (TRIZCON) tổ chức tại Mỹ với tư cách là báo cáo viên chính. Đề tài Tư duy sáng tạo và giảng dạy tư duy sáng tạo cho mọi người được đại biểu đến từ các nước phát triển, trong đó có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới hoan nghênh.

Trong khi TRIZ đang “giậm chân tại chỗ” ở Việt Nam thì trên thế giới đã tiến được những bước rất dài. Mỹ mới du nhập TRIZ từ năm 1991, nhưng họ đã nhanh chóng nhận thấy “đây là công nghệ mới mang tính cách mạng” và chỉ chưa đầy 10 năm đi học TRIZ, họ lôi kéo các chuyên gia TRIZ của Liên Xô (cũ), dịch tài liệu từ tiếng Nga sang tiếng Anh, xuất bản các tạp chí chuyên ngành, thành lập Viện TRIZ ở California, Viện Altshuller ở Massachusetts, thành lập Đại học TRIZ và giảng dạy cho các nhân viên của mình.

Thập niên 80 thế kỷ 20, hàng trăm thành phố ở Liên Xô mở trường, trung tâm, câu lạc bộ giảng dạy TRIZ. Rất nhiều nước trên thế giới đã và đang du nhập TRIZ như Nhật Bản, Pháp, Anh, Đức, Thụy Điển, Tây Ban Nha, lsrael, Phần Lan, Hà Lan, Mexico, Hàn Quốc… Hiện nay, danh sách các công ty sử dụng TRIZ để giải quyết các vấn đề của mình ngày càng dài như: Ford, Boeing, BMW, Kodak, Motorola, Siemens, Air Force, 3M. General Motors,…

Phần lớn số người theo học PPLST tại Việt Nam đang là học sinh, sinh viên. Nhiều người trong số họ đã giành được các giải cao nhất trong những cuộc thi Câu đố doanh nghiệp, Ý tưởng kinh doanh sáng tạo, Lập dự án khởi nghiệp… được tổ chức gần đây.

Sau rất nhiều nỗ lực không thành, Giáo sư, Tiến sĩ Phan Dũng tâm sự rằng, nhiều lúc ông cảm thấy cô đơn và mệt mỏi. Ông cho biết: “Chúng tôi vẫn phải làm việc cần làm theo cách của mình”. Hai trung tâm PPLST được mở là minh chứng cho cách làm này.

Đầu tư cho PPLST theo ông là rất thiết thực và “rẻ”. Thiết thực vì ai cũng phải suy nghĩ, cũng có vấn đề cần giải quyết. Rẻ vì ở các nước phát triển người ta phải học TRIZ với giá 500USD/ngày, ở TP Hồ Chí Minh chỉ có 420.000 đồng/khóa, còn ở Hà Nội là 320.000 đồng/khóa. Rẻ còn vì một lý do quan trọng hơn là ngờ uồn lợi từ tư duy sáng tạo.

Tuy nhiên, vấn đề đào tạo giảng viên kế tiếp đang rất khó khăn. Theo ông, đào tạo giảng viên PPLST khó ở chỗ, đây là môn khoa học tổng hợp, đòi hỏi ở người thầy lượng kiến thức phong phú, trong khi hầu hết các môn khoa học khác, giảng viên chỉ được đào tạo sâu ở một chuyên ngành.

Hằng năm, thầy Phan Dũng có bài đăng đều đặn trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trên thế giới, nhờ đó ông “tâm sự” được nhiều hơn với bạn bè trên thế giới những vấn đề mà trong nước ông cảm thấy cô đơn. Thầy Dương Xuân Bảo với cửa hiệu kính gương nhỏ “vợ nuôi” trên đường Trần Nhân Tông đang lo vốn kiến thức quý báu được học cách đây hơn 20 năm bên trời Nga sẽ mai một dần.

Giáo án giảng dạy TRIZ gồm 60 tiết của Giáo sư, Tiến sĩ Phan Dũng được TRIZCON 2001 công nhận là đầy đủ và tốt nhất thế giới. Song tại Việt Nam, giáo án của ông có lẽ chỉ được khoảng 15.000 học viên biết đến (!).

Sau chuyến đi giảng PPLST ở Bộ Giáo dục Malaysia, Tiến sĩ Phan Dũng ngậm ngùi: “Bây giờ mình sang dạy PPLST, nhưng với đà này trong tương lai họ sẽ sang dạy lại mình hoặc mình phải sang học lại họ”.

Thanh Loan
Báo An ninh thế giới
Copy từ 29/9/2011, http://www.dientuvienthonghue.com/forum/showthread.php?tid=830

Tải giáo trình về máy

Tiến sĩ Phan Dũng – Suy nghĩ tốt: Ít trả giá và hạnh phúc hơn

SGTTHơn 30 năm theo đuổi nghiên cứu và
giảng dạy phương pháp luận sáng tạo và đổi mới (PPLST&ĐM),
TS khoa học Phan Dũng (*) xuất hiện đều đặn trên các tạp
chí chuyên ngành của thế giới như một nhà khoa học hàng
đầu, được mời giảng dạy tại các nước và tham dự nhiều
hội thảo quốc tế… nhưng ông lại khá đơn độc ngay trên
đất nước mình.

Trong một thế giới tràn ngập thông tin nhưng lại thiếu hụt

nghiêm trọng về tri thức, về tư duy sáng tạo, nỗi lo lớn
nhất của ông là thái độ dửng dưng của những người có
trách nhiệm, khiến cho lĩnh vực khoa học quan trọng này đã và
đang bị bỏ lỡ. Theo ông, PPLST&ĐM là một nhân tố quan trọng
góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức.
Giản dị nhưng thật nghiêm cẩn trong từng lời, ông thổ lộ
về những tâm nguyện của mình…

Là người bức xúc với những vấn đề của xã hội, anh
nghĩ gì về những vấn nạn đang xảy ra hàng ngày?

Chúng ta đang phát động “lắng nghe ý kiến của dân” trên
nhiều lĩnh vực. Đúng là có những khía cạnh cần hỏi ý
kiến nhân dân. Ngoài ra, còn những khía cạnh khác thuộc về
quản lý và chuyên môn. Ví dụ, bệnh viện tim có thể lắng
nghe ý kiến nhân dân về cách phục vụ của mình, chứ không
thể hỏi ý kiến nhân dân về cách mổ tim thế nào cho tốt. Do
vậy, người dân đâu có chịu trách nhiệm về những khía
cạnh quản lý, chuyên môn.

Người dân không có lỗi, lỗi là ở những người quản lý và
các nhà chuyên môn. Ở nhiều nước, khi một cây cầu bị sập,
họ không hỏi ý kiến dân, mà cách chức ngay những vị nào
chịu trách nhiệm về công việc đó. Hay là do số lượng các
nhà chuyên môn, quản lý của Việt Nam ít quá, không kiếm
được người thay?

Nguyên nhân của tất cả các vấn nạn trong xã hội suy cho cùng
nằm trong giáo dục, hiểu theo nghĩa rộng, tức là giáo dục
từ gia đình, nhà trường, đến xã hội. H.G. Well nhận xét:
“Lịch sử của loài người là cuộc chạy đua giữa giáo dục
và thảm hoạ”. Nếu giáo dục thắng thì thảm hoạ thua, và
ngược lại. Tôi nhớ năm 1975, khi đất nước mới giải phóng,
nhiều buổi tối sát giờ giới nghiêm tôi đi xe gắn máy về
nhà, khi gặp đèn đỏ, mọi người đều dừng lại dù đường
cắt ngang rất vắng. Quan sát người dân khi va quệt xe, tôi
thấy nhiều người tự giải quyết, trao đổi với nhau để
đền bù mà không cần công an. Vậy tại sao 35 năm sau ngày
đất nước giải phóng, chuyện chấp hành luật giao thông càng
ngày càng đi xuống? Phải chăng những người thuộc thế hệ
trước được giáo dục về chấp hành luật giao thông hiệu
quả hơn hiện nay?

Anh vừa nói nguyên nhân gốc của các vấn nạn trong xã hội
là giáo dục, vậy còn những nguyên nhân gần hơn, trực tiếp
hơn?

Chị có thể thấy những nguyên nhân gần hơn, trực tiếp hơn

trong các bài báo, các lời phát biểu trên các diễn đàn, kể
cả diễn đàn của Quốc hội. Ví dụ, vấn đề trả lương,
tham nhũng, cải cách hành chính…

Tôi nghĩ nguyên nhân chính của tham nhũng là lương. Tôi còn
nhớ, chỉ cần mấy năm sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc
(1954) thì có chính sách về lương. Người vừa tốt nghiệp
đại học được nhận lương 60 đồng. Năm xu xôi là ăn sáng
được rồi. Một tô phở bò thị trường là 25 xu. Tiền ăn
một tháng là 20 đồng (chỉ chiếm một phần ba lương). Nếu
lấy giá tô phở làm đơn vị để tính giá trị lương thì
để bằng những năm cuối 1950, người vừa tốt nghiệp đại
học hiện nay phải được trả gần năm triệu đồng. Các phó
giáo sư, giáo sư hiện nay, trước khi về hưu cũng chỉ nhận
đồng lương tương đương với người vừa tốt nghiệp đại
học cách đây nửa thế kỷ! Đây là một trong nhiều điều
tôi không hiểu.

Điều không hiểu nữa là hiện tượng lưu manh hoá tràn lan ở
mọi tầng lớp trong xã hội. Trong giáo dục thì nạn bạo lực
học đường, các khoản thu ngoài quy định, chạy trường bằng
tiền đút lót. Bác sĩ thì kê khống toa thuốc, thông đồng
với người bán thuốc để làm giá với người bệnh. Quan toà,
quan chức lưu manh. Người ta đánh nhau, giết nhau vì những
nguyên nhân rất vớ vẩn… Tôi không phải là người nghiên
cứu lịch sử tội phạm, nhưng tôi có cảm giác, chưa bao giờ
tội ác nhiều và mức độ độc ác cao như hiện nay. Văn minh
mà chúng ta đang có là… văn minh giật lùi!

Ngoài ra tôi còn thấy, hình như loại người “ăn như rồng
cuốn, nói như rồng leo, làm như mèo mửa” ngày càng nhiều.

Chúng ta đang rơi vào “mê hồn trận” cải cách giáo dục,
với nhiều lúng túng, mơ hồ, sai rồi sửa, sửa lại càng
sai… Theo anh, muốn cải cách phải bắt đầu từ đâu?

Tôi nghĩ rằng chúng ta phải quay trở lại với khoa học giáo

dục, kế thừa những thành tựu của nhân loại. Đọc sách về
khoa học giáo dục, tôi tâm đắc với cách hiểu sau về giáo
dục: bằng các biện pháp thích hợp, tác động lên ý thức
người học nhằm làm thay đổi hành vi của người học, từ
đó củng cố những hành vi đó thành thói quen mới. Ví dụ,
thầy cô giáo nói với các em: “Ra đường nhìn thấy người
già, các em phải giúp đỡ”. Nếu một hôm gặp cụ già đang
lúng túng tìm cách qua đường, em học sinh chợt nhớ đến lời
thầy cô, quyết định dẫn cụ qua đường là em đã thay đổi
hành động và mọi việc nằm trong vùng ý thức.

Điều cao hơn nữa cần đạt được đấy là việc giúp đỡ
người già của các em trở thành thói quen tự động mới,
không còn phải đấu tranh tư tưởng, làm một cách tự giác,
thậm chí không để ý, không nhớ việc mình đã làm. Giáo dục
phải đạt đến mức hình thành những giá trị đạo đức
nền tảng có trong tiềm thức, như thế thì khi người ta đưa
hối lộ, người được giáo dục mới có thể gạt đi một
cách cương quyết, hoặc tự động thấy chuyện bất bình không
tha, chứ không phải đứng đó mà suy nghĩ xem có nên hay không.

Rất tiếc giáo dục hiện nay chỉ là thầy cô nói, học sinh
học thuộc lòng, rồi trả lại thầy cô, chứ không hề làm
thay đổi hành vi của người học. Hơn nữa, thầy cô muốn
dạy học sinh trước hết phải là những người đã được
giáo dục, để những giá trị nền tảng trở thành tiềm
thức, có như thế họ mới là những tấm gương cho học trò.
Điều này cũng đúng đối với các quan hệ giáo dục khác như
bố mẹ giáo dục con cái, nhà quản lý giáo dục người bị
quản lý, người đi trước giáo dục người đi sau, người
lớn tuổi giáo dục người nhỏ tuổi. Tóm lại, những người
làm công tác giáo dục (hiểu theo nghĩa rộng) phải là những
người được giáo dục. Nếu không, thượng bất chính, hạ
tắc loạn.

Anh từng viết rằng PPLST&ĐM sẽ giúp con người biến
“đời là bể khổ” dần trở thành “bể sướng”, điều
đó… có thật không?

Cuộc đời mỗi người là chuỗi các vấn đề cần giải
quyết. Các vấn đề này có thể nảy sinh trong mua sắm, học
tập, chọn ngành nghề đào tạo, xin việc làm, thu nhập, hôn
nhân, giáo dục con cái, quan hệ với những người khác, sản
xuất, kinh doanh… Hạnh phúc của mỗi người tuỳ thuộc vào
việc người đó giải quyết các vấn đề gặp trong suốt
cuộc đời của mình như thế nào. Cách suy nghĩ hiện nay của
phần lớn mọi người kém hiệu quả, phải trả giá nhiều,
nên thấy đời khổ.

PPLST&ĐM là môn học trang bị hệ thống các phương pháp, các
kỹ năng suy nghĩ tiên tiến, về lâu dài, tiến tới điều
khiển được quá trình suy nghĩ, giải quyết vấn đề. Nhờ
thế, suy nghĩ tốt hơn, ít trả giá hơn, giúp hạnh phúc hơn
trước. Đây là các kiến thức khoa học, lấy từ tâm lý học,
khoa học về hệ thống, lý thuyết thông tin, điều khiển
học… dành cho mọi người, giúp mỗi người hiểu mình và
hiểu người khác hơn, cao hơn nữa, làm chủ thế giới bên
trong của chính mình. Nhiều người quan niệm, sáng tạo là cái
gì đó cao siêu. Trong khi đó, công việc giải quyết vấn đề
chính là công việc sáng tạo và mỗi người cần sáng tạo
suốt cuộc đời.

Tuy cần thiết như vậy, nhưng từ hơn ba chục năm nay (khoá
PPLST&ĐM đầu tiên chúng tôi dạy là vào năm 1977), việc mở
rộng dạy môn này trong xã hội gặp rất nhiều khó khăn. Tôi
cho rằng trên con đường phát triển, Việt Nam ta không thể
tránh khỏi môn học này cũng như đã không tránh khỏi các môn
khoa học như toán, lý, hoá, tin học… Theo một số dự báo khoa
học mà chúng tôi được biết, người ta tin rằng, sau thời
đại tin học (hay còn gọi là làn sóng văn minh thứ tư sau nông
nghiệp, công nghiệp và tin học) là thời đại sáng tạo (tri
thức) mang tính quần chúng rộng rãi nhờ việc sử dụng các
phương pháp tư duy sáng tạo một cách khoa học, được dạy và
học một cách đại trà.

Xuất thân là nhà vật lý, vì sao anh chuyển hướng sang học
PPLST&ĐM?

Phải nói ngược lại mới đúng, bởi vì tôi quan tâm tư duy
sáng tạo từ khi còn học phổ thông trung học và rất mong
được theo học và nghiên cứu lĩnh vực này. Hồi nhỏ tôi hay
tự ái lắm, mỗi khi làm điều gì sai thường bị người lớn
mắng: “Sao dại thế, làm gì cũng phải nghĩ trước chứ”.
Tại sao không ai dạy mình cách suy nghĩ, cách tư duy? Khi học
các quy luật trong các môn lý, hoá, sinh, tôi luôn tự hỏi: vậy
trong suy nghĩ có quy luật không? Những câu hỏi đến ngày một
nhiều. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi được Nhà nước
phân công học ngành vật lý. Tình cờ biết về sự thành lập
học viện Sáng tạo sáng chế đáp ứng mong ước của mình,
tôi xin theo học ngay và mừng như người khát gặp nước uống.

Anh học được điều gì lớn nhất từ người thầy mà
mình ngưỡng mộ, GS Altshuller? Số phận thăng trầm của người
thầy có khiến anh suy nghĩ nhiều không về nhân tình thế thái,
về lý tưởng của đời mình?

Kiến trúc sư Lê Hoài Việt, trưởng phòng quy
hoạch kiến trúc công ty CPĐT Sài Gòn:”Tôi đặc biệt ấn tượng cách truyền đạt nghiêm túc, chăm
chút từng câu chữ với phương pháp sư phạm cao của thầy
Dũng. Nhìn bề ngoài thầy có vẻ đạo mạo tưởng chừng khó
gần, nhưng thầy luôn sẵn sàng lắng nghe học trò và đưa ra
những câu trả lời cặn kẽ, chân tình.Tôi rất buồn khi thấy sự nghiệp thầy bỏ công nghiên cứu
và giảng dạy suốt mấy chục năm qua không biết sẽ đi về
đâu. Mong ước của tôi là phổ biến cho càng nhiều người
biết càng tốt về phương pháp này”.

Thầy Altshuller là tác giả của lý thuyết giải các bài toán
sáng chế (viết tắt là TRIZ). Trong lĩnh vực PPLST&ĐM, TRIZ
được coi là mạnh nhất và chúng tôi dùng nó như là hạt nhân
của giáo trình PPLST&ĐM. Cuộc đời thầy trải qua rất nhiều
thăng trầm, kể cả bị kết án oan. Có bài viết về thầy mang
tựa Cuộc đời cay đắng và nhân cách độc đáo của một nhà
văn, nhà khoa học.

Thầy không chỉ là nhà sáng chế xuất sắc, nhà nghiên cứu
mang tính cách mạng, đột phá một lĩnh vực lâu nay được coi
là bí ẩn (lĩnh vực sáng tạo), là nhà văn viết truyện khoa
học viễn tưởng với phong cách độc đáo, mà còn là người
sống giản dị, chu đáo, hào hiệp với người khác, suốt
đời theo đuổi mục đích giúp mỗi người trong nhân loại có
những công cụ cần thiết để thực hiện một cách tốt nhất
quyền mà tự nhiên đã trao cho con người: quyền được sáng
tạo. Tôi coi thầy là tấm gương để noi theo.

Dạy về sáng tạo, anh có liên tục tự thay đổi mình? Kỷ
niệm nào mà anh nhớ nhất trong đời làm khoa học của
mình?

Rất nhiều ích lợi tôi đã nhận được nhờ áp dụng PPLST,
năng suất và hiệu quả công việc tăng lên, sai lầm và trả
giá giảm đi. Có hai việc làm tôi tự hào, đó là rút ngắn
được thời gian làm luận án tiến sĩ khoa học, và phổ biến
PPLST ở Việt Nam.

Ở đại học tổng hợp Leningrat, nơi tôi làm việc trong lĩnh
vực vật lý thực nghiệm, thời gian trung bình từ bậc tiến
sĩ vật lý lý thuyết lên tiến sĩ khoa học phải mất khá
nhiều năm, nhờ PPLST, tôi đã rút ngắn xuống còn hai năm.

Triết lý sống nào ảnh hưởng đến mọi quyết định của
anh? Phương châm sống nào anh cho là quý giá nhất?

Nguyễn Trần Thành, trưởng phòng kỹ thuật
công ty dịch vụ hỗ trợ thanh toán thương mại điện tử
Việt Phú:”Thầy là một nhân cách lớn, người có kiến thức và sự
hiểu biết sâu sắc không chỉ trong học thuật mà cả trong
cuộc sống. Học thầy là học cách sống, cách nghiên cứu khoa
học và tấm lòng sẵn sàng chia sẻ với mọi người. Con
đường vất vả gian nan của thầy để biến lý tưởng thành
hiện thực khiến tôi không khỏi suy nghĩ tại sao môn học này
lại được chấp nhận rất dè dặt ở Việt Nam, trong khi ở
nước ngoài nhiều chuyên gia theo đuổi ngành này rất thành
công?”

Tạo được những thế hệ tư duy sáng tạo có phương pháp khoa
học chính là sự thay đổi về chất lớn lao cho cả dân tộc,
đó là điều tôi theo đuổi. Khó khăn thì lúc nào chẳng có,
nhưng với tôi, sống và làm việc theo lương tâm là giá trị
lâu bền nhất chứ không phải là những giá trị cơ hội.

Một người thẳng thắn, quyết liệt như anh có khó sống
không?

Nếu sống với lương tâm mình thì không đến nỗi khó sống.
Bởi vì toà án lương tâm là toà án đeo đuổi mình, lên án
mình, dày vò mình… mọi nơi mọi lúc. Đấy là lúc khó sống
nhất.

Anh nghĩ gì về các giá trị gia đình? Kinh nghiệm nào giúp
anh giữ được một mái ấm bình yên và thanh thản?

Tôi quan niệm gia đình là thiêng liêng và phải gìn giữ nó như
gìn giữ con ngươi của mắt mình. Khi có những vấn đề về
gia đình, cũng như các vấn đề khác, cần phải áp dụng
PPLST&ĐM.

Anh mong muốn điều gì ở con cái?

Tôi mong phần “con” của chúng càng ngày càng thu nhỏ lại,
và phần “người’ ngày càng phát triển to, đẹp hơn.

thực hiện Kim Yến , 8/6/2010

(*) Giám đốc trung tâm Sáng tạo khoa học – kỹ thuật
(TSK) thuộc đại học Khoa học tự nhiên, đại học Quốc gia
TP.HCM
.

Gian nan một môn khoa học trẻ

Phan Dũng là một trong 6 sinh viên Việt Nam đầu tiên học tại Học viện Công cộng sáng tạo sáng chế Azecbaigian. Năm 1973, ông tốt nghiệp đồng thời Đại học Tổng hợp quốc gia và Học viện này tại Liên Xô; năm 1985 ông nhận học vị TS, năm 1989 ông là TSKH về Vật lý thực nghiệm các chất bán dẫn tại Đại học Tổng hợp quốc gia Leningrad (nay là Saint Petersburg) Liên bang Nga. Năm 1991 ông nhận chức danh phó giáo sư.

Bốn năm sau khi về nước công tác, năm 1977, Phan Dũng đã đem những hiểu biết của mình soạn thảo một chương trình có tên là “Phương pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật” (TRIZ – viết tắt theo tiếng Nga) dạy ngoại khóa cho sinh viên trường đại học tổng hợp – nơi anh đang công tác và Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM.

Từ kết quả của những lớp này, anh mở liên tiếp một số khóa dạy miễn phí cho những ai thích học môn học trên. Tiếng lành đồn xa, học viên xin học ngày càng đông. Sớm thấy được việc làm ích lợi của Phan Dũng, Ủy ban Khoa học kỹ thuật TP.HCM đã tích cực ủng hộ bằng cách duyệt cấp vốn cho đề tài “Bước đầu nghiên cứu thực hiện việc giảng dạy và tổ chức áp dụng phương pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật vào hoạt động sở hữu công nghiệp” của anh, đề tài này đã được nghiệm thu loại xuất sắc tháng 4.1992.

Sau 14 năm hoạt động, ngày 23.4.1991 “Trung tâm sáng tạo khoa học kỹ thuật (TSK)” được Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp TP.HCM ký quyết định thành lập và cử TSKH Phan Dũng làm giám đốc. TSKH Phan Dũng đã soạn hơn mười quyển sách giáo khoa, sách tham khảo, mở hơn 300 khóa học dạy cho hơn 15.000 người có trình độ từ lớp 8 đến tiến sĩ ở độ tuổi từ 14 đến 75 trong cả nước.

TSKH Phan Dũng còn được Bộ Giáo dục Malaysia mời dạy một giáo trình Tư duy sáng tạo cho những quan chức của ngành. Ông còn được nhiều hội nghị, tạp chí khoa học chuyên về tư duy sáng tạo ở Nga, Hà Lan, Mỹ, Thái Lan, Malaysia, Singapore mời trình bày báo cáo, báo cáo chính (keynote speaker), công bố những công trình khoa học.

Người ta tính được rằng: nếu đầu tư cho lớp học TRIZ một thì lời của nó thu được sẽ gấp 16 lần. Các tài liệu về TRIZ của Liên Xô được dịch và xuất bản tại hầu hết các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Phần Lan… Nhiều nước đã có những cố gắng phổ cập phương pháp suy nghĩ sáng tạo cho đông đảo mọi người. Ngay như Venezuela có tới 106.000 giáo viên được huấn luyện áp dụng các bài giảng về tư duy, học sinh được dành một tuần hai giờ học các kỹ năng tư duy. Ở nước ta, trong hai ngày 2 và 3.4.2007, tại TP.HCM đã tiến hành chương trình Hội thảo về một trong những công cụ thông dụng nhất của tư duy sáng tạo Mind Maps – bản đồ tư duy – do GS Tony Buzan thuyết trình mà phí mỗi người phải đóng là từ 450 đến 650 USD.

Năm 1971 Liên Xô mới có trường đại học sáng tạo sáng chế – nơi đào tạo 6 người Việt Nam mà ta đã biết. Tại thời điểm này, trong lĩnh vực khoa học sáng tạo, phương pháp luận sáng tạo của ta đang “sánh vai với các cường quốc năm châu”, chưa kể sự có mặt của trường phái sáng tạo TRIZ thì chúng ta đã đi trước Mỹ 14 năm, Pháp 19 năm, Nhật 20 năm, Hàn Quốc 21 năm và Singapore 25 năm (Mỹ bắt đầu giảng dạy TRIZ từ năm 1991, Pháp thì 1996 và Nhật là 1997). Ở Việt Nam ông Phan Dũng đã viết giáo trình và dạy phương pháp luận tư duy sáng tạo từ 1977.

Lãnh đạo Bộ GD-ĐT từng kết luận: “Sau khi xem xét ý kiến của Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã giao cho các đơn vị chức năng nghiên cứu và đề xuất việc áp dụng trong điều kiện thích hợp… Trong quá trình nghiên cứu áp dụng, nếu các đơn vị chức năng có yêu cầu trao đổi và hợp tác, mong được sự cộng tác của giáo sư”.

Nhưng, gặp chúng tôi vào những ngày cuối năm học 2006-2007, PGS TSKH Phan Dũng cười buồn: “Sau khi nhận được công văn (ngày 25.2.2004) tôi rất phấn khởi nên có hỏi danh tính các đơn vị chức năng để chuẩn bị cộng tác, thì được trả lời là phải bí mật nên không cho tôi biết” (?). Thế rồi từ đó đến nay tất cả lại rơi vào im lặng.

Lê Khắc Hân, 4/6/2007

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)

Advertisements
This entry was posted in Kinh nhiệm sống and tagged , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s