SỨC KHỎE VÀ ĐỜI SỐNG

Sức khỏe tuy chưa phải là tất cả, nhưng mất sức khỏe thì mất hết mọi thứ

Cần làm gì khi nhà có người thân qua đời ? (3 bài)

Posted by ngocson on 08/03/2011


Bài 1. Cần làm gì khi nhà có người thân qua đời ?

Khi một người thân trong gia đình mất thì những người trong gia đình cần phải lo tẩm liệm, không nên để cho người xa lạ làm công việc này. Vì để cho người xa lạ tẩm liệm người thân của mình, có điều chi không vệ sinh họ sẽ nói thế này thế khác, không tốt và rất tội nghiệp cho người thân của mình.

Cho nên trách nhiệm những người trong gia đình khi có người thân mất thì phải tẩm liệm và an táng cho chu đáo đừng để người bên ngoài làm việc này. (Ở nước ngoài, mọi việc tẩm liệm này đều do Công Ty Mai Táng thực hiện).

Trong gia đình có người thân mất thì mọi người phải bình tĩnh, sáng suốt, và cần phải làm những việc như sau:

1- Việc đầu tiên là phải dùng nước ấm và khăn sạch lau khắp cơ thể người thân cho sạch sẽ rồi thay đổi quần áo mới. Bộ quần áo cũ xếp lại, sẽ bỏ vào áo quan, sau khi tẩm liệm.

2- Mua một bao trà khô (loại dùng để tẩm liệm) rải đều dưới đáy áo quan một lớp khoảng độ 2 phân.

3- Mua một tấm vải ba thước chiều dài và một thước sáu chiều ngang, nếu cư sĩ thì mua vải màu trắng, còn tu sĩ thì vải màu vàng. Nếu không có vải khổ rộng 1 thước 60 thì hai miếng vải khổ rộng 8 tấc dài 3 thước may ghép lại.

4- Trải tấm vải ấy ra rồi 4 người thân trong gia đình, con trai trưởng nâng đầu người chết còn những người khác: một người nâng chân, một người nâng bên hông mặt và một người nâng bên hông trái, nhẹ nhàng đặt thân người chết nằm ngay ngắn giữa tấm vải.

5- Cũng bốn người thân đó ở những vị trí như trên, mỗi người nắm mép vải và đồng giở lên một lượt rồi đặt thân người chết vào áo quan. Nếu người chết là nam thì mép vải bên trái phủ trước, rồi mép vải bên mặt phủ kế tiếp rồi đến mép vải trên đầu và cuối cùng mép vải dưới chân phủ lên là xong. Nếu là người nữ thì mép vải bên mặt phủ trước bên trái phủ sau. Sau đó, nếu muốn tẩm liệm theo những vật dụng gì thì nên để dưới chân người chết. Xong đậy nắp áo quan và đóng đinh lại.

6- Mọi người trong gia đình đồng khiên áo quan đặt ngay giữa nhà. Trước áo quan đặt một bàn thờ nhỏ có ảnh người chết và một lư hương để mọi người đến cúng điếu cắm hương chia buồn, mỗi người chỉ cần thắp một cây hương tượng trưng cho lòng chia buồn mà thôi.

Trang trí trên bàn thờ một dĩa trái cây, ngoài ra không nên chưng bông hoa, hay chưng gì nữa cả. (Ở đây, ý Trưởng Lão vì đức hiếu sinh không muốn thấy hoa bị cắt khỏi cành đem chưng trên bàn thờ trong ngày đau buồn tang khó này, ngoài ra chưng hoa chỉ làm đẹp mắt mà không thiết thực hữu dụng như trái cây. Ở nước ngoài, do văn hóa đời sống khác biệt, mọi người đều quý hoa, nên chưng hoa là chính (mà quên hoa cũng có đời sống của nó, nở lòng cắt hoa lìa cành mẹ). Cá nhân hay tập thể đi phúng tang mà không có tràng
hoa hay vật phúng cụ thể thì trong lòng thấy ngại, nhất là khi tang gia không chấp điếu. Khi quan tài đã hạ huyệt xong thì mọi người đi đưa đều ném một cành hoa (hay một nắm đất) xuống huyệt là hành động cuối cùng tiển biệt người chết. Còn nếu thiêu thì sau khi đưa quan tài vào lò thiêu, các lẳng hoa đều cho vào thùng rác để giữ vệ sinh môi trường.

7- Đặt áo quan và bàn thờ nhỏ trong nhà xong thì những con cháu tề tựu đảnh lễ và ngay lúc đó người gia trưởng phát vải tang cho mọi người trong gia đình. Con trai và con gái thì đội khăn trắng phủ kín đầu (Ở đây, Trưởng Lão muốn tiết kiệm chi phí. Theo phong tục của người Việt, ngoài mũ còn có áo dài và quần rộng cùng một thứ vải màu trắng đó. Nếu chỉ dùng mặc trong lễ tang rồi đốt bỏ thì quả là không tiết kiệm. Nhưng thói quen của quần chúng rất khó bỏ. Chỉ những ai không ngại bị chê trách mới thực hành được việc này); hàng con dâu, con rể thì bịt một chiếc khăn trắng trên đầu như khăn đóng, trẻ em hàng cháu nội-ngoại thì một miếng vải trắng nhỏ cài trên ngực áo. Sau khi chôn cất xong trở về nhà thì khăn trắng được trả lại nơi bàn thờ, mọi người chỉ mang một miếng vải trắng nhỏ nơi ngực.

8- Người chết không nên quàn để lâu vì để lâu làm mất vệ sinh chung. Vì vậy sáng chết chiều chôn, chiều chết sáng chôn. Nếu có điều kiện cần để lâu thì chỉ nên một ngày đêm mà thôi.

9- Không nên rước thầy chùa tụng niệm cầu siêu vì người chết đã theo nghiệp tái sinh luân hồi ngay liền khi chết còn đâu mà cầu siêu. Đó là một việc làm mù quáng, mê tín.

10- Không nên rước nhạc trống kèn làm ầm ĩ. Đám ma là lúc mất mát đau buồn, có gì vui đâu mà kèn trống. Vậy nên tránh đàn kèn trống. Và nhất là đây không phải chỗ buôn bán thây người chết để lấy tiền.

11- Đưa áo quan lên xe tang để đi chôn cất thì không nên rải giấy tiền vàng mã theo đường, làm mất vệ sinh môi trường sống. Và nhất là không nên rướt thầy chùa ngồi tụng niệm ê a trên xe tang. Đó là hình thức lạc hậu, mê tín, thiếu văn hóa, không khoa học.

12- Hạ huyệt. Khi xe tang đến nơi thì áo quan chuyển từ trên xe đến huyệt, để áo quan ngay ngắn trên huyệt, và lúc bấy giờ con cái tập trung lại đảnh lễ lần cuối cùng. Sau khi con cái đảnh lễ xong thì áo quan từ từ hạ huyệt.

13- Khi chôn cất xong mọi người đồng trở về nhà và đặt bàn thờ người chết nơi trang nghiêm nhất trong nhà để hàng ngày con cháu tưởng nhớ công ơn của người đã mất.

14- Không nên mở cửa mã. Trong ba ngày đầu, con cháu đến thăm mộ và đắp sửa sang lại cho sạch sẽ.

15- Hằng ngày đến giờ ăn cả gia đình ngồi lại ăn thì nên để một đôi đũa và một bát cơm ngay tại bàn ăn này, mọi người trong nhà, nhất là người gia trưởng, đều mời người chết ăn cơm, tưởng như người đó còn sống, chứ không nên soạn mâm cơm đem cúng trên bàn thờ.

16- Tuần thất. Những tháng đầu mới mất chia ra làm ba tuần thất. Tuần thất thứ nhất là bảy ngày; tuần thất thứ hai là 21 ngày; tuần thất thứ ba là 49 ngày. Trong những ngày tuần thất ấy chúng ta làm một bữa cơm mời những người nào đã giúp trong việc ma chay đến dùng bữa cơm thân mật để tỏ lòng biết ơn những người bạn thân này.

17- Sau một năm mất chúng ta làm một bữa cơm và con cháu về đầy đủ. Người gia trưởng nhắc đến công ơn của người đã mất với gia đình, với quê hương tổ quốc.

18- Đến năm thứ hai sau khi mất cũng làm một mâm cơm mời con cháu về đủ mặt. Người gia trưởng tuyên bố mãn tang và thu hồi những miếng vải trắng nhỏ và đem đốt. Từ đây về sau không còn ai mang tang khó nữa.

Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Thông Lạc
Tu Viện Trưởng Tu Viện Nguyên Thủy Chân Như, Việt Nam

Nguồn: http://www.nguyenthuychonnhu.net (cám ơn anh Xuân Phong đã gởi về)

Bến xưa, SG comment:

Quan điểm của tôi trong việc tổ chức lễ tang theo nghi thức Phật giáo nên như sau:

  1. Đơn giản hóa lễ tang như có thể. Nếu gia đình có điều kiện về tài chánh thì liên lạc với dịch vụ mai táng.
  2. Mục 1-6 (nêu trên): việc gì công ty mai táng có thể làm được nên để họ làm vì đó là chuyên môn nghiệp vụ của họ.

  3. Mục 8-11: đó là hủ tục lỗi thời, mê tín dị đoan cần phải bài trừ triệt để! Tôi rất hoan nghênh cho đề nghị đã nêu trên.

  4. Cúng: Ba Tuần thất, 100 ngày, giáp năm, mãn tang & sau này là giỗ hằng năm không nên bày rình rang mà xem như đây chỉ là dịp để con cháu tụ họp tưởng nhớ đến người đã khuất!

  5. Bên cạnh an táng hỏa táng cũng là một lựa chọn & là giải pháp tốt (thân thiện) đối với môi trường mà chúng ta đang sống!

Cuối cùng điều quan trọng nhất vẫn là cái tình người đối với nhau lúc còn sống… những cái khác chỉ là những nghi thức cần và đủ đối với người đời!

Bài 2. Nghi lễ đám tang

(TNTT&GT) Đám tang, tưởng là cho người chết nhưng thực ra là vì người sống. Chúng ta đang thực hiện những nghi lễ nào cho người đã khuất? Và thực hiện theo tâm thế nào? Mời bạn đọc tham gia bàn thảo cùng TNTT&GT.

Đám tang là một nghi lễ lớn, nghi lễ cuối cùng trong đời một con người. Ở phương Đông, dường như nghi lễ là thứ quan trọng nhất nên mới có câu “tiên học lễ”. Trong những câu chửi bới rủa sả, một trong những câu độc địa nhất là “đồ chết đường, chết chợ” vì khi chết đường chết chợ sẽ không được hưởng nghi lễ đám tang một cách đầy đủ, trọn gói.

Có một câu đố là “cái gì người mua thì không dùng mà người dùng thì không mua?” Trả lời đó là cái vòng hoa đám tang. Đám tang là một sự kiện mà những người tổ chức nó để cho người đã khuất. Trong đám tang có nhiều nghi lễ một phần để chứng tỏ sự kính thờ người đã khuất, một phần, theo người còn sống, để người đang trên đường trở về với cát bụi yên lòng.

Những nghi lễ truyền thống

Nghi lễ đám tang Việt hình như được thiết kế theo nghi thức tang lễ có gốc từ sách “Văn công gia lễ” của Chu Hy đời nhà Tống bên Tàu, giản lược theo “Thọ mai gia lễ” của Hồ Sĩ Dương đời Lê. Nghi lễ đám tang ấy thể hiện rất rõ quan điểm con người là do khí âm, khí dương hòa hợp lại, con người có hồn có vía nên dù đã nhắm mắt xuôi tay vẫn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đối với những người sống. Đám tang là một nghi lễ với những thủ tục quy định nghiêm ngặt, nào “Thiên chính tẩm” (dời ra giữa nhà), nào lắng nghe “Di ngôn” (lời trăng trối), nào “Gia tân y” (thay quần áo), nào “Hạ tịch” (đặt xuống chiếu trải dưới đất), nào “Trị quan” (chuẩn bị quan tài), nào “Nhập quan” (đặt vào quan tài)…

Rồi trong đám tang có các lễ như Thành phục (lễ phát tang), Di quan (lễ chuyển cữu), lễ hạ huyệt, tế Thổ địa… Các nghi thức trong đám ma nhiều khi có ý nghĩa thực tế nhất định, ví dụ thủ tục Hạ tịch là đặt thi thể xuống đất cầu mong người đã khuất khi gặp khí âm của đất may ra sống lại; lễ Phạm hàm bỏ gạo trắng hay ba đồng tiền vào miệng người chết để người quá cố không còn khát vọng tầm thường, thù oán quấy rối người sống…

Ngày xưa, trong đám tang con cháu người thân phải ăn mặc lôi thôi, mặt mày tiều tụy để chứng tỏ cha mẹ chết đi con cháu trở thành kẻ mồ côi, khốn cùng… Ngày nay, thời đại công nghiệp, nhiều thứ cũng được châm chước; hoặc nghi lễ đám tang phức tạp quá nên con cháu, người thân phải phó mặc giao trọn gói cho nhà đám.

Buồn vui chuyến đi cuối của đời người

Trong đám tang thường có ban nhạc hiếu đến đánh trống, thổi kèn để tạo nên không khí cho đám. Tiếng nhạc đám tang ở miền Bắc ngoài kèn, trống còn có vài cây nhị rền rĩ nỉ non như tiếng khóc. Tiếng nhạc đám tang ở miền Nam có thể là nhạc kèn Tây chơi cả những bản trữ tình, để mua vui cho người chết, để làm cho không khí đám ma đỡ căng thẳng, buồn bã. Nhiều đám tang ở Sài Gòn chẳng có chút gì ai oán thảm sầu, thậm chí còn… vui như hội. Không còn ai lạ lẫm khi nghe điệu lăm-ba-đa nóng bỏng hay nhạc khúc shalala rộn ràng trỗi lên giữa các đám tang ấy. Có người bình luận: “Trường học không dạy học sinh ngả nón khi gặp xe tang thì chuyện đám ma mà tấu nhạc quán bar cũng là điều dễ hiểu”.

Trong đám tang, nhiều khi có bài điếu văn được viết công phu ca ngợi thân thế, sự nghiệp của người đã khuất được viết lâm ly bi thiết khiến người dự đám không khỏi thương tiếc, sụt sùi. Điếu văn như thể để người lương thiện ra đi thanh thản, để gia quyến người đã khuất dù có mất mát, đau thương cũng được an ủi, tự hào. Đôi khi, người ta bỗng nghĩ lúc sống, phải sống sao để lúc ra đi, vong linh không phải hổ thẹn khi nghe điếu văn tiễn biệt mình.

Ngày xưa, khi đã nhiều tuổi ít ai sợ chết bởi quan điểm “sống gửi thác về” là phổ biến, chết là được đi gặp ông bà, được “ngồi trên nóc tủ ngắm gà khỏa thân”. Ngày xưa, người ta coi chết là đi sang một thế giới khác, có khi còn sung sướng hơn. Giờ đây, đời sống khấm khá hơn có vẻ như người ta “tham sống sợ chết”.

Cuộc đời là những chuyến đi. Chuyến đi cuối cùng của đời người là đi vào lòng đất – chuyến đi có lẽ là hoành tráng nhất, có kèn có trống tiễn đưa. Đám tang như một lời nhắc nhở về sự hữu hạn của đời người, để người ta đỡ tham sân si, để thấy “Vua Ngô băm sáu tàn vàng/Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”.

Dù chu đáo thế nào chăng nữa, tang gia thường bối rối nên dễ để xảy ra những sơ suất khiến người ta chê bai nên có câu “ma chê cưới trách”. Bởi vậy, có lẽ chẳng nên chê bai đám ma nhỏ hay cũng chẳng nên khen đám ma to làm gì…

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20100309/nghi-le-dam-tang.aspx

Bài 3. Phong tục tang ma

71. Tại sao trước khi khâm liệm nhập quan có tục đưa người chết nằm xuống chiếc chiếu giải dưới đất?

Theo Phan Kế Bính :”Lấy nghĩa, người ta bởi đất sinh thì chết lại về với đất”.

Chúng tôi cho rằng tục đó phát sinh từ kinh nghiệm thực tế để dễ thao tác. Vả chăng, trong cơ thể người chết còn có điện trường sinh học, làm như vậy khả năng tích điện âm trong cơ thể người chết mới được giải thoát, đó là một phương thuật phòng xa hiện tượng “Quỷ nhập tràng”.

72. Sau lễ thành phục, trước lễ an táng phải làm gì?

Thời nay đơn giản, để giữ vệ sinh không nên để quá 24 giờ. Thời xưa, có những nhà giàu sang để năm bảy hôm trong nhà, chờ con cháu về đông đủ, để họ hàng, làng xã, hàng tổng hàng huyện đến phúng viếng; để dựng rạp trước sân, dựng nhà trạm dọc đường từ nhà đến mộ để chuẩn bị mọi thứ khí tế và cỗ bàn thết đãi linh đình; để thày cúng chọn ngày, thày địa lý chọn đất an táng, phân kim lập hướng hẳn hoi. Có nhà còn sắm đủ trong quan ngoài quách, quàn tạm trong vườn, vài tháng sau mới làm lễ an táng.

Trong thời gian chưa chôn có “Lễ triêu tịch điện” : Buổi sáng dậy bưng khăn lược vào linh sàng, các con quỳ khóc ba tiếng rồi quấn màn lên cáo từ rằng: “Ngày đã sáng rồi xin rước linh bạch ra linh toạ”. Sau đó rước hồn bạch ra đặt vào ỷ, vắt màn, dọn chăn gối, chiều tối lại rước linh bạch vào, đắp chăn thả chiếu, màn xuống. Thờ như lúc sống, chỉ lạy hai lạy (chỉ sau khi an táng, làm lễ thành phâng xong mới lạy bốn lạy theo nghi lễ người chết).

Các buổi tối trước khi chưa chôn, có “Lễ chúc thực” (Trồng bó đuốc trước sân): phường bát âm tấu nhạc, con cháu thay nhau túc trực bên linh cữu, trong nhà ngoài sân đèn đuốc sáng trưng.

Khi thân bằng cố hữu đến phúng điếu, người chủ tang và người chủ phụ đứng cạnh linh toạ và ngoảnh mặt về phía khách, hễ khách lạy hai lạy thì chủ lễ tạ lại một lạy. Khách vái cha mẹ mình ba vái thì vái tạ một vái. Trách nhiệm tiếp trầu, nước, cỗ bàn thuộc về người hộ tang.
Nếu có người con trai nào đi vắng chưa kịp về thì để mũ, khăn xô và gậy cạnh hương án.

Trước khi làm lễ chuyển cữu để chuẩn bị phát dẫn thì áo quan vẫn trở đầu vào trong, coi như lễ người sống, đọc văn cũng chưa dùng chữ “Hiển thảo” (cha) “Hiển tỷ” (mẹ) mà con dùng chữ “Cố phụ” (cha), “Cố mẫu” (mẹ)

ở thành phố ngày nay đã có nhà ướp lạnh, ở nông thôn để dăm bảy ngày trong nhà, phải làm sao cho khỏi nhiễm uế khí ? – Điều quan trọng nhất là người trị tang phải có kinh nghiệm : áo quan vỏ dày, gỗ tốt, trám thật kín, không để một khe hở nào. Đáy áo quan lót những chất chống ẩm như lá chuối, giấy bản, than, vôi, bỏng nếp… Các khe hở của áo quan được bịt kín trước bằng sơn ta, nhựa đường, dán giấy tráng kim. Nếu để lâu phải có trong quan ngoài quách, giữa quan và quách đổ cát vàng rang khô nóng. Phủ trên thi hài có các thứ hương vị để khử uế khí.

Trước ngày an táng còn có thêm tục “Lễ yết cáo tổ tiên”, nếu không đưa được linh cữu, phần lớn các gia đình rước hồn bạch đến nhà thờ họ. Hồn bạch chỉ được đặt phía trước bàn thờ, để ở dưới, không được đưa lên bàn thờ tổ. Nội dung: Báo cáo với gia tiên có thân phụ hoặc thân mẫu về chầu tổ. Xong lại rước hồn bạch về nhà mình, đặt lại trên linh toạ.

73. Những người điều hành công việc trong lễ tang?

Trong lúc tang gia bối rối không có người chủ đạo điều hành, công việc sẽ rất lúng túng và phạm nhiều sai sót.

Khi thân nhân sắp từ trần, việc đầu tiên tang gia phải mời được người hộ tang. Người hộ tang phải là người thân thích gần gũi, có tuổi tác, kinh nghiệm, tháo vát, có uy tín trong họ. Người hộ tang thay mặt tang chủ điều hành mọi công việc, đối nội đối ngoại.

Nếu người hộ tang biết cúng lễ thì kiêm luôn, nếu không thì mời người chấp sự, Người chấp sự lo việc hướng dẫn về mặt nghi lễ từ mộc dục, khâm liệm, thiết linh, thành phục đến an táng. Thành phần và tế ngu (lễ 3 ngày sau khi chôn). Người chấp sự thường là người có văn hoá (chữ Hán, chữ Quốc ngữ) nên có thể kiêm luôn cả việc tư vấn (viết văn cúng tế, bài vị, long triệu, đối, trướng, cáo phó…).

Người thu lễ: Sau khi thành phục cho đến hết 3 ngày sau khi an táng phải có người thu lễ. Người đó chuyên túc trực ở nhà ngoài, hễ có khách đến phúng viếng thì tiếp khách nhận lễ đặt lên bàn thờ, báo cho thân chủ ra bái tạ. Người thu lễ phải ghi đầy đủ danh sách người đến viếng và số lễ vật, để sau này tang chủ biết mà tạ ơn. Người thu lễ kiểm tra lễ vật sau khi khách đã cúng lễ xong ra về. Vì vậy phải chọn người thân tín của tang gia.

Người chấp hiệu: Thông thường các ban hành lễ đã có người chấp hiệu chuyên trách. Người chấp hiệu là chỉ huy đám phu kiệu đưa quan tài từ nhà ra xe tang hoặc đại dư (tuy không có xe nhưng khiêng kiệu hay xe gọi là đại dư), điều kiển việc đi đứng, nâng lên hạ xuống, sang trái sang phải, bằng hiệu lệnh hai thanh gỗ ngắn cầm tay, cho đến lúc hạ huyệt, tháo giây đòn mà chén rượu, đĩa dầu lạc đặt trên nắp áo quan không sánh ra ngoài. Người chấp hiệu ngồi trên đại dư ở phía sau, hoặc đi bộ giật lùi trước quan tài để điều khiển.

Nếu gia đình nào tự thu xếp để con cháu kiêng áo quan thì phải chú ý chọn người chấp hiệu nhiều kinh nghiệm.

Chủ tang và chủ phụ: Là con trai trưởng và con dâu trưởng. Nếu tang cha mà mẹ còn sống thì mẹ là chủ phụ. Nếu cháu đích tôn thừa trọng (thay thế cha đã mất, khi làm lễ tang ông bà) thì cháu đích tôn là chủ tang, các ông chú đứng hai bên chỉ là bồi tế vợ của người cháu là chủ phụ khi bà chồng và mẹ chồng đã mất, còn các bà thím chỉ là phụ. Nếu cháu đích tôn còn bé quá, chưa chống gậy lễ tạ được thì chú thứ hai thay thế, nhưng vẫn phải nhân danh cháu mà bái lễ và bái tạ.
Những tục nghi lễ ngày xưa khá phức tạp, ngày nay đã được cải tiến, một số tục lệ lạc hậu, lỗi thời đã bị nhiều vùng bãi bỏ, ví dụ tục lăn đường, đuổi tà ma ác quỷ. Lệ tục chung vận dụng vào từng địa phương, từng hoàn cảnh cụ thể khác nhau, ngày xưa đã vậy, huống hồ ngày nay. Có gia đình con đàn cháu lữ, của ăn của để, sung túc đề huề, có gia đình đơn bạc nghèo nàn nên phải tuỳ nghi châm chước.

74. Lễ an táng tiến hành như thế nào?

Tuỳ từng địa phương, từng tôn giáo, mỗi nơi nghi lễ phong tục một khác. Thời trước có thôn ấp cử những người trai tráng trong làng xóm ra khiêng vác chôn cất. Nơi có hội tư văn, thì hội tư văn đứng ra lo liệu điều hành công việc theo hương ước định sẵn. Hiện nay ở nông thôn có các hội trợ tang, thành phố thị xã có ban quản lý nghĩa trang, một số chi hội trọng thọ các phường xã hoạt động, đứng ra lo liệu chu đáo.

Lễ an táng tiến hành tuỳ theo hoàn cảnh từng nhà, “Giàu làm kép, hẹp làm đơn”. ở đây chỉ nói phần tang gia cần làm gì:

Khi có người thân mất, tang chủ cần đến báo gấp, để cùng bàn bạc theo quy ước đã định.

Thời xưa, tang chủ có khoản tiền thưởng cho người chấp hiệu và những phu kiệu. Nếu từ khi đưa áo quan lên kiệu, đi đến huyệt mà chén rượu, đĩa dầu lạc để trên áo quan không sóng sánh ra ngoài thì tang chủ đưa tiền thưởng rất hậu.

Thân nhân, theo thứ tự nhân sơ quy định, tang phục theo gia lễ, đều xếp hàng đi theo sau linh cữu. Thời xưa có cái bạt bằng vải trắng che trên đầu gọi là bạch mạc. Người con trưởng đi trước hoặc kèm sau xe quan tài theo tục “Cha đưa mẹ đón”.

Hạ huyệt xong, tất cả người đi đưa đều đi vòng quanh mộ một vòng, mỗi người ném xuống một hòn đất.

Đắp mộ xong, mọi người đứng vòng quanh mộ, người hộ tang, người chấp sự tiến hành lễ thành phần.

Nghi thức chung như trên, nhiều nơi còn có tục riêng như cầu kinh, yểm bùa, nhốt con gà, cài cây lá chứa, dựng cây nêu, đóng cửa mả, đốt hình nhân… rắc vàng khẩu dọc đường, cắm hương ở các mộ xung quanh, mời người qua đường ăn trầu hút thuốc, đãi người đắp mộ…

75. Hơi lạnh ở xác chết, cách phòng?

Hơi lạnh hay âm khí, tà khí có ở xác người chết không?
Chưa ai đo nhiệt độ cụ thể trong thi thể người chết nhưng nhiều người đã công nhận rằng, theo cảm giác thì người mới chết lạnh hơn nhiều so với nhiệt độ bình thường của con người cũng như của môi trường xung quanh.

Hiện tượng đó được giải thích như sau: Con người đang ở nhiệt độ bình thường (37oC), tự nhiên mất nhiệt thì nhiệt độ không chỉ hạ xuống tới hoà đồng với nhiệt độ môi trường mà còn tụt xuống thấp hơn, sau đó một thời gian nhiệt độ mới nhích dần lên tới thể ổn định.

Dân gian công nhận hiện tượng hơi lạnh ở nhà người chết mới chết là hiện tượng có thực, hiện tượng vướng phải hơi lạnh bị ốm cũng là hiện tượng phổ biến, nhất là đối với những người bị các chứng kinh niên như phong thấp, huyết áp cao, tâm thần… còn đối với những thanh niên mạnh khoẻ thì không mấy ai bị ảnh hưởng.

Có thuyết cho rằng: Những người đồng khí huyết (con cái với cha mẹ, anh chị em ruột hoặc gần huyết thống) thì không bị nhiễm hơi lạnh, không có phản ứng gì kể cả khi ôm ấp thi hài và khâm liệm. Tuy nhiên, để phòng xa, người ta vẫn kiêng không cho các bậc cao lão, phụ nữ có thai sắp đến ngày sinh hoặc sản phụ hài nhi đến dự khậm liệm, an táng và cải táng.

Có người hấp thụ phải hơi lạnh thì phản ứng tức thì. Có người trực tiếp khâm liệm, nhiễm hơi lạnh, bản thân khoẻ mạnh không việc gì, nhưng để phòng ngừa cho người ở nhà nên khi vaò nhà có người già, ốm yếu, trẻ sơ sinh vẫn phải xông khói rồi mới vào. Những người hàng xóm xung quanh nhà có tang lễ, nếu có cụ già trẻ nhỏ ốm yếu thường đặt sẵn ở cửa ra vào một lò than đốt vỏ bưởi và quả bồ kết để trừ uế khí. Những người nghi bị chó dại cắn, gia đình thường tuyệt đối cách ly đám tang và nơi nghĩa trang, e rằng vướng phải hơi lạnh chưa kịp chạy chữa đã phát bệnh.

76. Những Tục Lệ Cần Giữ Khi Quàng Xác?

-Tại sao có tục đặt một bát cơm úp, một quả trứng, dựng đôi đũa trên bát cơm, cài quả trứng vào giữa hai chiếc đũa rồi thắp hương đặt lên trên đầu người chết suốt trong thời gian chưa nhập quan?

-Tại sao người ta cắm một cái cọc bằng kim loại suốt chân giường người chết?

-Tại sao khi chưa nhập quan, người ta luôn luôn thắp hương nến (nếu không có nến thì thắp ngọn đèn dầu) cho đến khi hạ huyệt không để tắt hương đèn?

-Tại sao hai bên hương án, phía gần kề áo quan, người ta đặt hai cây chuối con?

-Tại sao có tục dựng bó đuốc to ở giữa sân vào ban đêm trước lễ an táng (nếu để qua đêm), con cháu và thân nhân túc trực quanh linh cữu (lễ “Chúc thực” ban đêm, nghĩa là “lễ trồng bó đuốc”?)

-Tại sao có tục kiêng ngăn người nhà không được đứng cạnh thi hài mà khóc, tránh nhỏ nước mắt vào thi hài?

  • Tại sao sau lễ nhập quan phải đốt lỗ hung (lỗ đào ở chính giữa giường người mới chết nằm khi chưa nhập quan. Chất đốt có thể dùng trấu, than , củi hoặc giẻ rách…).

-Tại sao lễ tang là việc buồn lại đốt pháo? (Tục này chỉ có ở thành phố đối với người già).

-Tại sao phải nhốt mèo khi nhà có người mới chết ?

-Tại sao khi người chết trong nhà, người ta phải trèo lên mái nhà dỡ một vài viên ngói, hoặc lá tranh (đối với nhà bịt nóc và ít cửa)?

Những câu hỏi trên cùng có chung một câu trả lời: Đó là kinh nghiệm dân gian,dùng phép thuật điều hoà khí âm dương, thu hút tà khí để phòng chống hơi lạnh và phòng xa hiện tượng “Quỷ nhập tràng”. Xuất phát từ kinh nghiệm, dần dần bắt trước nhau trở thành phong tục.
Dùng khói lửa, ánh sáng mặt trời (đốt hương, nến, đèn, đuốc, than, trấu, dỡ mái nhà, mở rộng cửa, đào lỗ hung, đốt pháo…) để triệt tiêu hơi lạnh. Dùng bát cơm, quả trứng, cây chuối… để thu hút hơi lạnh (nếu bổ đôi quả trứng, có nhiều lòng đỏ đã trở nên xanh thẫm giống như những quả trứng dùng để đánh gió.). Nhốt mèo để đề phòng mèo nhảy qua xác chết, kiêng khóc nhỏ nước mắt vào thi hài hoặc cắm cọc kim loại dưới giường người chết, dỡ mái nhà… là những thuật triệt tiêu luồng điện âm dương hút nhau.

Ngoài ra, những người đến dự lễ tang, nhất dự khâm liệm còn có những thuật khác để phòng chống hơi lạnh như ngậm gừng sống, uống nước lá nhót, ăn trầu và xông khói vỏ bưởi, bồ kết trước và sau khi đến lễ tang.

77. Hiện tượng quỷ nhập tràng

Đó là hiện tượng xác chết tự nhiên bật dậy. Hiện tượng này rất hiếm nhưng đã xảy ra, do đó trong phong tục đã có sự kiêng cự để phòng xa, gọi là “Quỉ nhập tràng” nhưng thực ra không có ma quỷ nào nhập vào xác chết. Nguyên nhân: Do điện âm tích tụ trong thi thể người mới chết chưa kịp thoát ra hết, gặp phải luồng điện dương cực mạnh cuốn hút.

Xác chết tự nhiên bật dậy là do sự cuốn hút bởi một ngoại lực có cảm ứng điện trường. Vì vậy theo quan niệm dân gian, khi trong nhà có người mới chết kiêng cự nhất là không để cho con mèo bất thần nhảy qua xác chết (người ta phải canh giữ, phải nhốt mèo lại). Đã có trường hợp, chén rượu hắt văng vào xác chết, giọt nước mắt có hơi ấm nhỏ vào xác chết cũng tạo thành luồng khí, có thể cuốn hút xác chết bật dậy nhưng ngã xuống ngay tức thì. Hiện tượng xác chết đuổi theo người sống: Xác chết không thể bước đi được mà do hơi nóng của người sống cuốn hút, hoặc trường hợp có luồng không khí đối lưu cân bằng khi xác chết ở tư thế đứng song song với người sống. Việc dỡ ngói hay tranh trên mái nhà để ánh sáng mặt trời trực tiếp rọi vào cũng nhằm triệt tiêu hiện tượng cuốn hút đó.

78. Lễ ba ngày (lễ tế ngu) tính từ sau khi mất hay sau khi chôn cất?

Tục này không thống nhất, có nơi tính ba ngày sau khi mất, có nơi tính ba ngày sau khi chôn. Xét trong điển lễ thì không có “lễ ba ngày” mà chỉ có “lễ tế ngu” gồm có “sơ ngu”, “tái ngu”, “tam ngu”. “ngu” nghĩa là “yên”, tức là ba lần tế lễ cho yên hồn phách, theo “Thọ mai gia lễ” thì khi chôn xong, rước linh vị về đến nhà tế sơ ngu. Làm sơ ngu xong gặp ngày nhu, (tức là ất, kỷ , tân, quí) làm lế tái ngu, gặp ngày cương (tức là ngày giáp, bính, mậu, canh, nhâm) làm lễ tam ngu. Phan Kế Bính cũng dẫn giải như trên.

Dần dần về sau người ta giảm lược, kiêm cả ba lễ luôn, chỉ làm lễ tam ngu, vì thế nên gọi là lễ ba ngày. Vậy là tính ba ngày từ sau khi chôn, theo tục gọi là lễ mở cửa mả. Ngày đó con cháu ra sửa lại mồ mả, đắp cỏ, khơi rãnh thoát nước… Ngu là tế ngu, tế chỉ tế người chết, tế thần. Theo phong tục cũ thì ít khi chết xong chôn ngay, thường còn để năm bảy ngày trong nhà. Khi chưa chôn làm lễ triêu tịch điện, tức cúng cơm hàng ngày vẫn theo lễ thờ người sống. Vậy tế ngu phải tính từ sau khi chôn.

Còn có một lập luận khác: Có ba điều không yên khiến phải làm lễ tế ngu:

-Đang sống hoạt động nay mọi hoạt động bỗng nhiên đình chỉ.

-Đang nhìn thấy bóng dáng, khi đã nhập quan không nhìn thấy bóng dáng nữa.

-Đang ở trên dương thế, nay xác về cõi âm, hồn vất vưởng lìa khỏi xác. Âm dương hoàn toàn cách biệt từ sau lễ thành phần. Sơ ngu, tái ngu, tam ngu là tế để làm cho yên hồn phách, vậy phải tế sau khi mất, sau khi lễ nhập quan và sau khi lễ thành phần xong.

Thời này cũng có trường hợp sau khi chết 4-5 ngày còn để trong nhà lạnh chưa chôn nên không thể làm lễ ba ngày trước lễ an táng.

79. Tại sao có lễ cúng cơm trong 100 ngày?

Gia đình Việt Nam nhà nào cũng vậy, mỗi ngày có hai bữa cơm là giờ phút đầm ấm nhất. Trong nhà có người về muộn, mọi người cũng cố chờ về ăn cơm một lúc cho vui vẻ, đầm ấm. Con cháu cầm bát cơm lên, trước hết mời ông bà, cha mẹ, chờ ông bà, cha mẹ rồi mới bắt đầu mới dám ăn. Có nơi xới bát cơm lần thứ hai còn mời nữa. Nếu có khách, trước khi buông bát đũa đứng dậycòn phải xin phép và mời khách tiếp tục xơi cơm. Cuộc sống gia đình đang vui vẻ, êm đẹp như vậy, vắng mặt trong bữa cơm còn nhắc, huống chi vĩnh viễn đi xa. Do đó, trước bữa ăn người thân dâng lên bàn thờ một bát cơm úp, một vài món ăn bình thường, nhà ăn thứ gì cúng thứ đấy, thường là tinh khiết, không đòi hỏi cầu kỳ, nhà nghèo thì lưng cơm, đĩa muối cũng xong. Thắp hương xong, dựng đôi đũa vào giữa bát cơm, có rượu thì rót chén rượu. Khấn vái xong cũng rót chén nước.

Thờ cúng vong linh cũng giống như đang sống, cũng là để thoả nguyện tâm linh, “Lấy câu vận mệnh khuây dần nhớ thương”.

Nhưng tại sao lại cúng 100 ngày?

  • Cũng tuỳ địa phương, có nơi chỉ cúng 49 ngày (tức là lễ chung thất). Theo thuyết của Phật giáo: qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ty(tức 1 tuần, nhưng không phải tuần lễ theo dương lịch); sau 7 tuần vong hồn đã siêu thoát. Có nơi cúng hết 100 ngày (tức lễ tốt khốc nghĩa là thôi khóc). Theo giải thích của các cụ ngày xưa thì thời gian này âm hồn vẫn còn phảng phất luẩn quẩn trong nhà chưa đi xa.

Chúng tôi cho rằng, phong tục này có căn cứ khoa học: Theo thuyết Thần giao cách cảm, ngoài điện trường vật lý đã được ứng dụng trong thực tiễn, còn có điện trường sinh học. Những cá thể có cùng tần số cảm ứng trong điện trường sinh học, mặc dầu ở cách xa nhau rất xa vẫn nhận được những nguồn thông tin của nhau. Các nhà khoa học đã vận dụng những phát triển đó để giải thích về điềm, về giấc mơ, về những biểu hiện tâm, sinh lý bất thường khi thân nhân (có thể cách nhau rất xa về không gian) có cùng tần số điện trường sinh học có sự biến bất thường. Người ta bảo chết là hết. Nhưng, chết chưa phải là đã hết khi người chết còn tồn tại trong tâm chí người sống. Sau khi chết, tim ngừng đập, máu ngừng chảy, thần kinh cảm giác ngừng hoạt động, vỏ não chưa bị huỷ, xung quanh hiện trường phát từ não vẫn chưa ngừng phát sóng. Lớp đất dày không ngăn được sóng điện vật lý hay sóng điện sinh học. Cá thể sống có tần số điện trường sinh học tương ứng vẫn tiếp nhận được tín hiệu, do đó hiện tượng báo mộng chưa hẳn là vu vơ, không đáng tin. Phải chăng vì lẽ đó mà các cụ cho rằng âm hồn còn phảng phất, chưa siêu thoát.

80. Làm lễ chung thất (49 ngày) và tốt khốc (100 ngày), có phải chọn ngày không?

Theo “Thọ mai gia lễ”, thì cứ đúng ngày quy định trong gia lễ mà làm, không có sự chuyển dịch tuỳ tiện theo lời thầy lễ hay thầy bói nào cả. Chỉ trừ ngày làm lễ an táng và ngày làm lễ trừ phục (hết tang) trong gia lễ có ghi chọn ngày lành. Người ta không ai có thể chọn ngày chết, vậy nên từ xưa tới nay, hàng năm cứ đến ngày mất thì làm giỗ, dù cho có những năm, ngày đó rất xấu, có cả trùng phục, trùng tang, sát chủ, quả tú, cô thần.v.v… theo gia lễ: Lễ chung thất, Tốt khốc, Tiều tường, Đại tường cứ theo đúng ngày mà làm lễ.
Con cháu ở xa nhớ ngày về làm lễ, thân nhân ở chỗ khác sắm sửa lễ đúng ngày tới dự, chẳng lẽ đến nơi thấy hương lạnh khói tàn, gạt nước mắt lủi thủi ra về hay sao? người chủ sự báo lại rằng: theo lời thầy lễ đã lễ xong xuôi đâu đấy rồi, hoặc đợi thêm và ngày nữa, được chăng? Xin lưu ý tang tế theo ngày định sẵn, thân bằng, cố hữu ai lưu luyến đến thăm viếng, không đợi thiệp mời như lễ mừng, lễ cưới, không chuỵện “Hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo” (mời thì đến, không thì thôi).

Copy từ http://e-cadao.com/phongtuc/trang71.htm

About these ads

Sorry, the comment form is closed at this time.

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 53 other followers

%d bloggers like this: